Theo sách Linh khu thiên Cửu châm thập nhị nguyên: “Huyệt là nơi thần khí hoạt động vào - ra; nó được phân bố khắp phần ngoài cơ thể”. Có thể định nghĩa huyệt là nơi khí của tạng phủ, của kinh lạc, của cân cơ xương khớp tụ lại, tỏa ra tại phần ngoài cơ thể. Nói cách khác, huyệt là vị trí tập trung cơ năng hoạt động của mỗi một tạng phủ, kinh lạc…., nằm tại một vị trí cố định nào đấy trên cơ thể loài người. Việc kích thích ở những huyệt vị đấy (bằng châm hay cứu) có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội tạng nào đó có sự phản ứng với mục đích đạt được kết quả điều trị mong muốn. Hãy cùng conlannhiet.com Tìm hiểu thêm các loại huyệt đạo trong cơ thể con người nhé. Đọc thêm cụ thể các loại huyệt tại đây: huyệt đạo là gì A. Các chức năng của việc châm cứu huyệt đạo Huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch & tạng phủ mà nó phụ thuộc. ví dụ huyệt thái uyên thuộc kinh Phế có quan hệ mật thiết: + Với kinh Phế + Với các tổ chức có đường kinh Phế đi qua. + Với các tính năng sinh lý của tạng Phế. Và những công dụng trong bệnh lý Theo Đông y, huyệt cũng là cửa ngõ xâm lấn của các nguyên nhân gây bệnh từ bên ngoàKhi sức đề kháng của cơ thể (chính khí) bị suy giảm thì các nguyên nhân bên ngoài (YHCT gọi là tà khí) dễ xâm lấn vào cơ thể qua những cửa ngõ ấy để gây bệnh. Và góc nhìn khác, bệnh của những tạng phủ kinh lạc cũng được phản ánh ra ở huyệt: hay đau nhức tự nhiên, hoặc ấn vào đau, hay màu sắc tại huyệt đổi thay (trắng nhợt, đỏ thẫm), hoặc dạng thức đổi thay (bong biểu bì, mụn nhỏ hoặc sờ cứng bên dưới huyệt). Những tính năng trong chẩn đoán bệnh Các căn cứ vào những đổi thay tại huyệt đã nêu trên (đau nhức, đổi màu sắc, co cứng.....) ta có thêm tư liệu giúp chẩn đoán nhất là chẩn đoán vị trí bệnh (ví dụ huyệt tâm du đau hay ấn đau làm ta nghĩ tới bệnh ở Tâm). Về những thể hiện bất thường tại huyệt thường chỉ có giá trị gợi ý cho chẩn đoán. để có được chẩn đoán xác nhận cần dựa trên toàn bộ phương thức chẩn đoán của Đông y. Về công dụng trong phòng bệnh và chữa bệnh Huyệt còn là nơi tiếp nhận những kích thích khác biệt. ảnh hưởng lên huyệt với một lượng kích thích thích hợp có thể làm điều hòa được các rối loạn bệnh lý, tái lập lại hoạt động sinh lý thông thường của cơ thể. Và chức năng điều trị này của huyệt tùy thuộc vào mối liên hệ giữa huyệt & kinh lạc tạng phủ, ví dụ: phế du (bối du huyệt của Phế) có chức năng đối với chứng không thở được, ho…; túc tam lý (hợp huyệt của kinh Vị) có tác dụng đối với chứng đau bụng. B. Phân loại các huyệt đạo Huyệt nằm trên đường kinh (huyệt của kinh - kinh huyệt) Huyệt của kinh là những huyệt trên 12 kinh chính và 2 mạch Nhâm, Đốc. Một cách tổng quan, tất cả các huyệt vị châm cứu đều có các chức năng chung trong sinh lý & bệnh lý như đã nêu tại trên. Mặc dù vậy, có các huyệt có chức năng quan trọng hơn những huyệt khác trong chữa trị và chẩn đoán. các huyệt ấy đã được người xưa tổng kết lại và đặt thêm tên cho chúng như nguyên, lạc, khích, ngũ du, bối du… Có thể tạm gọi Đấy là tên chức vụ của các huyệt vị châm cứu (ngoài tên gọi riêng của từng huyệt). những huyệt trọng yếu ấy gồm: Huyệt nguyên Thường được người thầy thuốc châm cứu xem là “huyệt đại diện” của đường kinh. Mỗi kinh chính có 1 huyệt nguyên. địa điểm các huyệt nguyên thường nằm tại cổ tay, cổ chân hoặc gần đó. vì tính đại diện của nguyên huyệt mà chúng thường được sử dụng nhằm chẩn đoán & điều trị các bệnh hư, thực của tạng, phủ, kinh lạc tương ứng. Huyệt lạc Huyệt lạc là vị trí bắt đầu của lạc ngang giúp cho nối liền giữa kinh dương & kinh âm tương ứng, bộc lộ được quy luật âm dưong, mối quan hệ trong ngoài, quan hệ biểu lý. Mỗi kinh chính & 2 mạch Nhâm, Đốc có 1 huyệt lạc. hơn nữa do đặc điểm trọng yếu của hệ thống Tỳ mà có thêm đại lạc của Tỳ. Tổng cộng có 15 huyệt lạc. vì đặc tính giúp nối liền 2 kinh có quan hệ biểu lý mà huyệt lạc thường được dùng để chữa trị bệnh của kinh có huyệt ấy, Bên cạnh đó điều trị cả bệnh của kinh có quan hệ biểu lý với nó. Mời khách sử dụng Tìm hiểu thêm lĩnh vực khác ở đây: https://conlannhiet.com.vn/huyet-menh-mon/